Bồ Tát và Kẻ Ngoại Tình  

        Ðêm khuya, trong một ngôi chùa nhỏ nọ có một người đối diện một vị Bồ Tát, Bồ Tát ngồi còn người kia đứng. 

        Người: Kính đảnh lễ đức Bồ Tát đầy đủ Từ bi và Trí tuệ, con là một người đã có vợ, nhưng hiện tại con đang yêu say đắm một người đàn bà khác, con thật không biết nên làm thế nào.

        Bồ Tát: Con có thể xác định người đàn bà con đang yêu hiện nay là người đàn bà cuối cùng duy nhất trong cuộc đời con không?

        Người: Thưa vâng.

        Bồ Tát: Con ly hôn, sau đó lấy cô ấy …

        Người: Nhưng vợ con hiện nay là một phụ nữ dịu dàng, lương thiện, thảo hiền. Con bỏ cô ấy liệu có phải quá tàn nhẫn không, có mất đạo đức không, bạch Đức Bồ Tát?

        Bồ Tát: Trong hôn nhân không có tình yêu mới là tàn nhẫn và mất đạo đức. Con hiện giờ đã yêu người khác, không yêu vợ nữa. Con làm như thế là đúng.

        Người: Nhưng vợ con rất yêu con, quả thật yêu con lắm, thưa đức Bồ Tát.

        Bồ Tát: Vậy thì vợ con hạnh phúc.

        Người: Sau khi con chia tay vợ lấy người khác, vợ con sẽ rất đau khổ, tại sao lại hạnh phúc, thưa đức Bồ Tát?

        Bồ Tát: Trong hôn nhân, vợ con vẫn có tình yêu đối với con, còn con đã mất đi tình yêu đối với vợ con. Bởi vì con đã yêu người khác, chính vì có hạnh phúc, mất đi mới đau khổ, cho nên người đau khổ là con.

        Người: Nhưng con cắt đứt vợ, sau đó cưới người khác, vậy là cô ấy đã mất con, cô ấy mới là người đau khổ.

        Bồ Tát: Con nhầm rồi, con chỉ là người vợ con yêu thật sự trong hôn nhân. Khi một người như con không tồn tại, thì tình yêu thực sự của vợ con sẽ tiếp nối sang một người khác, bởi vì tình yêu thực sự của vợ con trong hôn nhân xưa nay chưa từng mất, cho nên vợ con mới hạnh phúc, con mới là người đau khổ.

        Người: Vợ con đã từng nói, kiếp này chỉ yêu một mình con, cô ấy sẽ không yêu ai khác.

        Bồ Tát: Con cũng đã từng nói thế phải không?

        Người: Con ... con ... con ...

        Bồ Tát: Bây giờ con hãy nhìn vào ba ngọn nến trong lư hương trước mặt, xem ngọn nào sáng nhất?

        Người: Quả thật con không biết, hình như đều sáng như nhau.

        Bồ Tát: Ba ngọn nến này ví như ba người đàn bà, một ngọn trong đó là người đàn bà hiện giờ con đang yêu. Ðông đảo chúng sinh, đàn bà đâu chỉ là mười triệu trăm triệu ...  Ngay đến một trong ba ngọn nến, ngọn nào sáng nhất con cũng không biết, cũng không tìm được người con hiện đang yêu, thì làm sao con xác định được người đàn bà con đang yêu hiện nay là người đàn bà cuối cùng và duy nhất trong cuộc đời con?

        Người: Con ... con ... con ...

        Bồ Tát: Bây giờ con cầm một cây nến đặt ở trước mắt, để tâm nhìn xem ngọn nào sáng nhất? 

        Người:  Đương nhiên ngọn trước mắt này sáng nhất. 

        Bồ Tát: Bây giờ con đặt nó về chỗ cũ, lại xem xem ngọn nào sáng nhất.

        Người: Quả thật con vẫn không nhìn ra ngọn nến nào sáng nhất.

        Bồ Tát: Thật ra cây nến con vừa cầm giống như người đàn bà cuối cùng con đang yêu hiện nay, tình yêu nảy sinh từ trái tim, khi con cảm thấy yêu nó, để tâm ngắm nghía, con sẽ thấy nó sáng nhất, khi con để nó về chỗ cũ, con lại không tìm được một chút cảm giác sáng nhất. Thứ gọi là tình yêu cuối cùng và duy nhất của con chỉ là hoa trong gương hay trăng dưới nước, suy cho cùng chỉ là con số không, một cuộc tình trống rỗng.

        Người: Ồ, con hiểu rồi, không phải đức Bồ Tát bảo con phải ly hôn với vợ, Ngài đang niệm chú làm cho con ngộ đạo.

        Bồ Tát: Nhìn thấu sẽ không nói trắng ra, con đi đi ! 

        Người:  Bây giờ con đã biết thật sự con yêu ai, người đó chính là vợ con hiện nay, thưa đức Bồ Tát. 

        Bồ Tát im lặng mỉm cười ...

Theo Tuổi Trẻ Phật Giáo 




So sánh giữa trái đất này và thế giới Tây-Phương Cực-Lạc

HT. Thích Hân Hiền 

        Trong kinh đức Phật dạy:  Chúng sanh ở cõi Cực Lạc không một điều khổ, thuần hưởng những điều vui thanh tịnh.  Nay lấy cõi Cực Lạc so với cõi Ta Bà khác nhau một trời một vực. 

        Cõi này:  Thân xác thịt máu mủ, thần thức gá vào thai mẹ, chín tháng cực hình bằng hai mươi năm khổ.  Khi sanh ra, mình như bị ép đau đớn vô cùng, ấy là có sanh thời có khổ. 

        Nước Phật:  Thần thức vào trong liên bào rộng rãi như một thế giới huỳnh kim, qua lại tự tại, tùy ý tu tập, phiền não nghiệp duyên dứt sạch, hương hoa ngào ngạt, ấy là thân người từ trong hoa sen báu hóa sanh nên không có sanh khổ. 

        Cõi này:  Thân xác của loài người bị sự già yếu xâm chiếm dần dần từ giây từ phút, mãi đến mắt lờ tai điếc, tóc bạc răng long, má cốp, da mồi, tay chân rung rẩy, thân thể suy nhược, ấy là già khổ khốn cùng. 

        Nước Phật:  Mỗi người đều là thân kim cương đủ 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, rực rỡ như ngọc ma ni, da vàng óng ánh, tóc xanh man mác, dáng đẹp thanh xinh, vĩnh kiếp không thấy già suy, nên không có sự già khổ. 

        Cõi này:  Mỗi khi thân tứ đại chẳng điều hòa dễ phát sanh ra nhiều chứng bệnh, nào là nhức đầu, nhức răng, nào là đau bụng, phổi yếu, đau nhức rên xiết v.v...  đó là bệnh khổ. 

        Nước của Phật:  Tinh thần luôn luôn tráng kiện, thanh khiết ngát hương, nên không có bệnh khổ. 

        Thế giới này:  Vô thường nhanh chóng, ít có ai sống đến 80.  Tiếng rít khô khan của lưỡi hái tử thần, cùng tiếng rên xiết đau thương của những người tranh sống, làm cho trần thế thắm đượm màu thê lương ảm đạm.  Bóng ma trôi lãng vãng đâu đây như chực rước người về nơi âm cảnh. 

        Cõi Phật:  Đức Giáo Chủ Lạc Bang Phật A Di Đà sống lâu vô lượng, vô biên, vô số kiếp, từ khi Ngài thánh Phật đến nay đã được mười đại kiếp, nhân dân của Ngài cũng vĩnh kiếp trường xuân.  Cõi ấy lưỡi hái của tử thần đã biến mất từ lâu và đò âm dương cũng tan thành mảnh vụn.  Tên tà ma không còn nghe đến trên cõi ấy, làm gì có ma tử thần rước đến âm cung, ấy là trọn đời mãi đến thành Phật, nên không có sự chết khổ. 

        Cõi này:  Tình thương khắng khít nhau nên chia ly là cảnh nát lòng, nỗi u buồn tràn ngập tâm hồn người lữ thứ, biết bao kẻ khóc than nghĩ về cảnh cố ly, ngậm ngùi nuốt hận ly hương.  Cổ nhân có câu: 

        "Chẳng thà tử biệt còn hơn

        Chẳng đành cam chịu bước đường sanh ly." 

        Ấy là thương yêu xa lìa khổ. 

        Nước Phật:  Mỗi người đều có phép thần thông tự tại, biết được điều ước muốn của người khác, chẳng cần vô tuyến truyền thanh, truyền hình;  dỡ bước chân có thể đi khắp mười phương, không còn gì xa cách.  Buổi sáng người dạo vô lượng cõi Phật, tán hoa cúng dường, trưa về bổn quốc, phạn thực kinh hành, đâu còn khổ sầu khóc hận ly hương nữa.  Ai cũng không cha mẹ, vợ con, làm gì có sự thương yêu xa lìa khổ? 

        Cõi này:  Nỗi oán thù người càng mang nặng, cuộc chạm trán lại thường xảy đến, còn khổ nào hơn?  Ấy là thù hờn gặp gỡ khổ. 

        Nước Phật:  Bạn toàn là Bồ Tát bất thối chuyển bậc thượng thiện, dứt sạch tất cả sân si, còn ai mà gây thù hận nên không có sự thù hờn gặp gỡ khổ. 

        Cõi này:  Có bao điều được như ước nguyện?  Hay chỉ hoài công thôi?  Thật khổ vô cùng.  Ấy là cầu mong không được vừa ý khổ. 

        Nước Phật:  Thanh tịnh trang nghiêm, mọi điều mong ước tùy theo ý muốn mà hiện đến, nên không có sự hoài mong thất vọng. 

        Cõi này:  Người bị năm ấm lẫy lừng khổ. 

        Nước Phật:  Không có thân kiến mà tâm luôn luôn thanh tịnh, nên không có năm ấm lẫy lừng khổ.  

        Cõi này:  Sợ bóng tối đêm đông dày đặc. 

        Nước Phật:  Lúc nào hào quang Phật cũng chiếu sáng rực rỡ, nên không có ngày và đêm. 

        Cõi này:  Thân hình xấu xa nhớp nhúa, kẻ mang tật này người mang tật khác. 

        Nước Phật:  Thân tướng đoan nghiêm, xinh đẹp, sáng rỡ, làm gì có tật cho người mang. 

        Cõi này:  Sự đói khát luôn luôn đe dọa, nên con người phải tranh giành sự sống. 

        Nước Phật:  Có nước bát công đức làm thân tướng tươi nhuận, muốn ăn có trân tu thượng vị, muốn mặc có y phục tự nhiên. 

        Cõi này:  Đầy những hầm hố, chông gai, đá, sỏi, bùn, sình. 

        Nước Phật:  Đất toàn vàng ròng, không chút bụi nhơ, đường lót ngọc quý, nhẵn tợ thủy tinh, gai chông không kiếm đâu ra. 

        Cõi này:  Lâu đài, dinh thự bị phong ba bão tố sẽ hư hại, sụp đổ. 

        Nước Phật:  Lâu đài do chất quý, vàng, bạc , lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mã não tự nhiên hiệp thành. 

        Cõi này:  Chìm đắm trong biển khổ sanh tử luân hồi nơi ba cõi sáu đường. 

        Nước Phật:  Trọn đời chứng ngộ chơn lý của Niết Bàn không sanh diệt, sống vô lượng vô biên A-tăng-kỳ kiếp mãi đến thành Phậtt, đâu còn sanh tử nữa. 

        Cõi này:  Có sự khổ về địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. 

        Nước Phật:  Không còn lo ngại bị đọa vào ba đường ác.  Danh từ ác đạo trên cõi ấy còn không có thay huống là sự thật. 

        Cõi này:  Núi non chập chùng, rừng thiên nước độc, thung lũng ngút sâu, chông gai nhơ xấu dẫy đầy. 

        Nước Phật:  Đất toàn vàng ròng, cây báu cao vời vợi, lâu đài nguy nga tráng lệ được xây bằng bảy báu, hoa trổ bốn mùa, làm gì có những thứ xấu nhơ. 

        Cõi này:  Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni đã nhập diệt, mà Phật vị lai trong Hội Long Hoa chưa xuất hiện. 

        Nước Phật:  Đấng Từ phụ A Di Đà hiện đang thuyết pháp độ sanh ở cõi ấy. 

        Cõi này:  Chúng sanh khao khát mong thấy đức Bồ Tát Quan Âm cùng đức Thế Chí. 

        Nước Phật:  Nhân dân đều được gần gũi hai Ngài là bạn lành cao quý. 

        Cõi này:  Tà đạo, ma quỷ, yêu quái khuấy phá, cố làm cản trở việc tu hành chơn chánh của người. 

        Nước Phật:  Chỉ có đức Phật giáo hóa và thống lãnh tất cả nhân dân, tuyệt đối không có tà ma ngoại đạo. 

        Cõi này:  Phấn son trang điểm cho người thiếu nữ một vẻ đẹp quyến rũ, kẻ hồng nhan mở nụ cười tươi, liếc mắt đưa tình lả lơi, làm người tu hành dễ sa vào chốn tà dâm. 

        Nước Phật:  Mỗi người đều luôn luôn được thân tâm thanh tịnh, chánh báo và y báo hằng trang nghiêm.  Danh tu ưngười nữ còn không có thay, làm gì có bóng dáng nữ sắc khuấy rối việc tu của người. 

        Cõi này:  Người hoảng hốt, ghên sợ khi nghe những tiến kêu quái đản của loài yêu tinh, ác thú. 

       Nước Phật:  Chim hót vang lừng, suối reo róc rách, rừng cây vi vu.  Tất cả vang lên tiếng pháp mầu thanh cao. 

        Thật đem cõi Ta Bà so với cõi Cực Lạc duyên và cảnh khác nhau quá xa. 

        Thắng cảnh cõi Cực Lạc có thể nhiếp chúng sanh giữ lấy lòng thanh tịnh. 

        Thắng duyên cõi Cực Lạc có thể giúp thêm sức cho người tu-hành. 

        HỎI:  Tại sao mười phương các đức Phật đều có thể gần gũi chúng sanh mà nay chỉ chọn đức Phật A Di Đà? 

        TRẢ LỜI:  Chọn đức Phật A Di Đà, có ba duyên cớ: 

        1.  Thệ nguyện của Ngài rất sâu rộng. 

        2.  Chúng sanh trong cõi Ta Bà có nhân duyên với Ngài. 

        3.  Sự hóa đạo của Phật Thích Ca Mâu Ni và Phật A Di Đà liên quan với nhau và bốn nguyện rộng lớn độ khắp chúng sanh. 



Những đặc tính siêu việt và độc nhất vô nhị của Phật giáo 

Tác giả:  Lâm Thế Mẫn, dịch gi:  Thích Chân Tính 

1. Những điểm đặc sắc của Phật giáo:
         A. Phật là người mà không phải là thần.
         B. Phật là người rất bình đẳng.
         C. Phật không phải là người sinh ra mà biết.
         D. Phật giáo không thừa nhận có người tồi tệ không thể giáo hóa.
         E. Phật không phải là độc nhất vô nhị, mọi người đều có thể thành Phật.
         G. Phật giáo không thừa nhận có thần sang tạo ra vạn vật.
         H. Phật giáo tùy theo căn cơ hoàn cảnh mà giáo hóa.
         I. Phật pháp là nhập thế để giáo hóa, không xa rời thế gian để giáo hóa.
         K. Phật giáo không bài xích đạo khác. Khác nhau là ở chỗ mức độ tu chứng của người tu hành. Phật giáo đồng ý tất cả các tôn giáo lớn và đang tồn tại thì đáng để theo.
         L. Phật giáo là dân chủ và tự do.

2. Một số hiểu lầm về giáo pháp đã được xóa tan:
         A. Phật giáo là trí tín, chẳng phải mê tín.
         B. Phật pháp là khoa học mà chẳng phải phản khoa học.
         C. Phật giáo là từ bi không sát sanh.
         D. Phật giáo là tích cực lạc quan.
         E. Phật giáo không phải là trốn tránh hiện thực.
         G. Phật giáo không chỉ nói suông về nghĩa lý. Lý (lý thuyết) và sự (thực hành) thì phải song song với nhau để Phật giáo được hoàn chỉnh.
         H. Phật giáo phủ định lý thuyết về số mạng của một người đều do đời trước định đoạt, sức người không thể thay đổi được.
         I. Phật giáo không sùng bái hình tượng. Người theo đạo Phật không sùng bái tượng Phật nhưng sùng bái Đức Phật và những lời dạy của Ngài. Tượng Phật chỉ giúp cho người ta thêm kính trọng và noi theo những lời dạy của Đức Phật. 




Hai mươi bài kệ Thiền nổi tiếng của chư Tổ, Thiền Sư và Đức Phật Bổn Sư

Chuyển ngữ và giải thích:  Phật tử Thiện Phúc.  Chuyển sang Anh ngữ, chú thích và bình luận:  Thiền sinh ưu tú và Thánh giả Thích Huyền Quang. 


Bản chữ Nôm (chuyển ngữ từ bản Hán văn):

 

        01.  Thân thị Bồ Đề thọ

        Tâm như minh kính đài

        Thời thời thường phất thức

        Vật xử nhạ trần ai. 


Chuyển sang Việt ngữ:

 

        Thân thiệt Bồ Đề thọ

        Lòng như minh cảnh đài

        Hằng hằng lau phủi sạch

        Chớ để vướng bụi bặm.

        Tuy bài kệ của Ngài Thần Tú hãy còn hữu tướng, mà theo Phật thì phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng, nhưng nếu người đời y theo những lời này mà tu trì thì khỏi phải sa vào tam đồ ác đạo. 

 

 

Bản chữ Nôm:

 

        02.  Bồ Đề bổn vô thọ

        Minh cảnh diệt phi đài

        Bổn lai vô nhất vật 

        Hà xứ nhạ trần ai.

 

Chuyển sang Việt ngữ:

 

         Bồ Đề vốn không cội

        Gương sáng cũng không đài

        Xưa nay không một vật

        Chỗ nào dính trần ai.  


        Qua bài kệ này, Lục Tổ Huệ Năng đã chứng tỏ được sự thấu triệt tánh không của Ngài.  Không cây, không đài;  xưa nay không một vật, lấy chỗ nào mà vướng bụi ?  Đối với Ngài, gạo đã trắng từ lâu, chỉ còn chờ sàng nữa là xong.  Tuy nhiên, đời nay có mấy ai được cái phong thái của Ngài Huệ Năng ?  Đã không được mà lại học đòi thì thật là vô cùng nguy hiểm.  Hở ra là vô niệm;  hở ra là không phân biệt, hở ra là đòi đi thẳng Niết Bàn, hoặc giả học đòi không thiện không ác.  Làm sao không thiện không ác khi ngày ngày còn ăn thịt chúng sanh ?  Làm sao không thiện không ác khi ngày ngày vẫn còn sân si ?  Làm sao không thiện không ác khi dâm dục vẫn có thừa ?  Làm sao không thiện không ác khi tham lam bỏn xẻn vẫn còn đầy ?  Thôi hãy trả cho xong nợ cũ;  đừng vay them nợ mới nữa, rồi hẳn tính chuyện không thiện không ác.  Hãy cố mà học theo Ngài Thần Tú trước cái đã, rồi hãy chạy theo Ngài Huệ Năng. 

 

 

Bản chữ Nôm:

 

        03.  Thân như điện ảnh hữu hoàn vô

        Vạn mộc xuân vinh, thu hựu khô

        Nhậm vận thịnh suy vô bố úy

        Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.

 

Chuyển sang Việt ngữ: 

 

        Thân như bóng chớp có rồi không

        Xuân về hoa nở, thu khô héo

        Mặc tình suy thịnh nào lo sợ

        Thịnh suy như sương mai đầu cỏ.


        Thân như ánh điện chớp, có rồi lại không.  Cây cối, mùa xuân tươi tốt, thu khô héo.  Nhậm vận cho dù có thịnh, có suy cũng không hề sợ.  Thịnh suy chỉ như những hạt sương mai trên đầu cỏ mà thôi. 

        Thiền Sư Vạn Hạnh đã xuất khẩu cảm tác bài kệ này ngay trước phút giây Ngài nhập diệt.  Tâm hồn của Ngài an lạc và thanh tịnh đến độ thượng thừa.  Ngài đã chẳng những vô cùng thản nhiên giữa cái sống và cái chết, mà tất cả những pháp trên đời này đối với Ngài là không.  Ngài đã an nhiên tự tại và buông xả đến độ không còn gì có thể lay chuyển được nữa.  Chúng ta nên noi lấy cái gương nầy mà tu cho thành đạo quả vậy ! 

 

 

Bản chữ Nôm: 

 

        04.  Bất thức tự gia bảo

        Tùy tha nhận ngoại trân       
        N
hật trung đào ảnh chất

        Cảnh lý thất đầu nhơn.

 

Chuyển sang Việt ngữ:

     

        Báu nhà mình chẳng biết
        Lại theo người nhận ngoại trân
        Gi
ữa trưa chạy trốn bóng

        Kẻ soi gương mất đầu.

 

        Thiền sư Thạch cựu đã ngán ngẫm cái cảnh thiên hạ cứ mãi chạy theo những cái bóng ngoại trần mà quên bẳng mất bản than.  Cứ nay thì hỏi hạt châu trong tay Thế Tôn;  mai lại hỏi hạt châu trong tay ngài Địa Tạng;  mốt lại đi hỏi xem coi Ngài Bồ Tát nào đang có châu báu để xin theo hầu.  Ngài Thạch Cựu đã vạch cho chúng ta thấy hạt châu ngay chính trong chéo áo của ta;  đừng mãi dong ruổi ở những nơi xa xăm để cầu tìm.  Hạt châu ấy theo ta như bóng theo hình, cho dù ta có lăn lộn trong tam đồ ác đạo, nó vẫn ở bên ta.  Xin hãy nhớ cho rõ lời dạy dỗ của Ngài Thạch Cựu để không bị lâm vào tình cảnh của anh chàng Diễn Nhã, xem gương thấy cả bóng lẫn đầu, nhưng khi xếp gương lại thì lại hô hoán lên là mình mất đầu.  Chúng ta cũng chính là cái anh chàng Diễn Nhã ấy.  Thường thì ta hay chạy theo vọng niệm, chợt sinh, chợt diệt…  Để rồi cuối cùng ta không còn biết gì đến ta nữa. 

 

 

Bản chữ Nôm: 

 

        05.  Ngô hữu nhất Tôn Phật

        Thế gian giai bất thức

        Bất tố diệt bất trang

        Bất điêu diệt bất khắc

        Vô bất khối nê thổ

        Vô nhất điểm thái sắc

        Công họa họa bất thành

        Tặc thâu thâu bất khứ

        Thể tướng bản tự nhiên

        Thanh tịnh thường hạo khiết

        Tuy nhiên thị nhất Tôn

        Phân thân thiên bách ức.

 

Chuyển sang Việt ngữ: 

 

        Ta có một Đức Phật

        Người đời không ai biết

        Không đúc cũng không trang

        Không điêu cũng không khắc

        Không cần đến đất bùn

        Cũng chả cần màu sắc

        Thợ vẽ, vẽ không ra

        Giặc cướp lấy không được

        Thể tướng vốn tự nhiên

        Thường trắng trong thanh tịnh

        Tuy chỉ có một tôn

        Hóa thân ngàn muôn ức.

 

        Chẳng những đời nay người ta lấy đất bùn để nắn nót thành những pho tượng, mà đời xưa, vào thời của Ngài Bố Đại Hòa Thượng, người ta chỉ ngày ngày sụp lạy hết tượng gỗ, đến tượng đất, rồi đến tượng đồng.  Ngài Đại Bố đã đánh cho mỗi người trong chúng ta một cái tát tay nẩy lửa mà rằng:  Trong chúng ta có ai cần lấy gỗ làm tượng, hoặc giả tô màu trét phấn, hoặc giả cố vẽ thành hình một đức Phật.  Để chi ?  Để tự mình vẽ bùa cho mình đeo.  Hãy lắng nghe những lời chỉ dạy của Ngài Bố Đại để ngày ngày quay về sống với chính ông Phật trong ta. 




Bản chữ Nôm:

 

        06.  Pháp bổn như vô pháp

        Phi hữu diệt phi vô

        Nhược nhân tri thử pháp

        Chúng sanh dữ Phật đồng

        Tịch tịnh Lăng Già Nguyệt

        Không không độ hải chu

        Tri không, không giác hữu

        Tam muội nhậm thông châu.

 

Chuyển sang Việt ngữ: 

 

        Pháp vốn là pháp không

        Chẳng có cũng chẳng không

        Nếu người biết pháp ấy

        Chúng sanh cùng Phật đồng

        Trăng Lăng Già vắng lặng

        Thuyền Bát Nhã rỗng không

        Biết không, không thực hữu

        Chánh định mặc thong dong.

 

        Các pháp xưa nay vốn sanh diệt biến đổi liên tục, khi hiện hữu khi vắng mặt theo duyên giả hợp.  Do vậy, bản chất các pháp là không thực có, chúng có một cách tạm bợ mà thôi, chúng không hạn cuộc trong lý giải có hoặc không (phi hữu diệt phi vô).  Ai ngộ được pháp không nầy thì cùng chư Phật nắm tay, vì người đó đã nhận ra được tự thể của các pháp là không, là không có thực, nên không còn vướng mắc gì nữa.  Người đó an vui tự tại giữa cuộc đời có không giả tạm nầy. 


        Thiền Sư Huệ Sinh của Việt Nam, vào đời nhà Lý, đã khẳng định rằng Bản Lai Chân Diện Mục của mình phải được chính mình nhận ra thì chừng đó có pháp, không pháp cũng chẳng quan hệ gì;  chừng đó trăng Lăng Già vắng lặng;  thuyền Bát Nhã rỗng không.  Chừng đó mọi cuộc luân hồi sanh tử đà chấm dứt;  chừng đó ta sẽ hằng sống trong niềm hạnh phúc vĩnh cữu.  Cái hạnh phúc vĩnh cữu này không ở một nơi xa xăm nào đó, mà là ở ngay trong cái thân tứ đại vô thường nầy.  Hãy lắng lòng mà suy nghiệm xem ! 





         07. Khi còn niên thiếu, ta thấy cái gì cũng xinh, cái gì cũng đẹp, cái gì cũng cao quý, cái gì cũng lý tưởng. Tại sao vậy? Tại vì lúc ấy ta chưa thấu triệt được lẽ huyền diệu của cuộc đời. Tầm nhìn của ta hãy còn mê mờ và hạn hẹp. Ta hoàn toàn bị thu hút và chi phối bởi những biến chuyển thăng trầm của thế sự. Hễ ngày xuân đến, hoa nở với cảnh sắc tưng bừng thì long ta cũng xôn xao, rộn rịp và ngây ngất với hương xuân. Tuy nhiên, khi ta đã thấy được cảnh sắc huy hoàng thật sự của Điện Đôn Hoàng thì lòng ta chững chạc chứ không còn bị lôi kéo bởi mọi thinh sắc đã từng lôi kéo ta trước đây. Nhưng làm sao để khám phá được Điện Đôn Hoàng ? Theo Thiền sư Trần Nhân Tôn, con đường duy nhất là hãy lắng lòng mà trở về với Bản Lai Chân Diện Mục. Chừng đó mắt ta sẽ sang ra, tai ta sẽ nghe ngay cả những thinh âm vi tế. Chừng đó long ta sẽ an nhiên tự tại. Ta hãy suy gẫm về bài kệ Đôn Hoàng Điện sau đây của vua Trần Nhân Tôn:


Bản chữ Nôm:  


        Niên thiếu hà tằng liễu sắc không
        Nhất xuân tâm sự bách hoa trung
        Như kim khám phá Đôn Hoàng Điện
        Thiền bản Bồ Đoàn khán trụy hồng.


Chuyển sang Việt ngữ:

        Niên thiếu chưa tường lẽ có không
        Ngày xuân hoa nở rộn tơ lòng
        Chùa Xuân nay đã thành quen biết
        Thiền tọa an nhiên ngắm trụy hồng.


 



         08. Thiền sư Thiện Chiêu ở Phần Dương bên Tàu đã thấy sự lợi ích không thể nghĩ bàn của pháp môn tọa thiền nên Ngài đã ứng khẩu làm thành bài kệ khuyên mọi người, chứ không riêng gì tăng chúng, nên thiền tập. Vì thiền tập sẽ giúp cho thân chúng ta được điều hòa và khỏe mạnh. Khi nghe uể oải trong người như sắp bị cảm mà ngồi thiền độ một hoặc hai tiếng đồng hồ là cảm cúm tự tránh xa. Tại sao? Tại vì lúc ngồi thiền ta ít tiêu thụ năng lượng, do đó mà đa phần năng lượng sẽ biến thành nhiệt lượng giữ cho cơ thể luôn ấm áp. Ngoài ra, tọa thiền còn giúp tâm ta bớt viễn ly, điên đảo, và vọng tưởng. Hãy quán xét bài kệ sau đây của Ngài Thiện Chiêu:


Bản chữ Nôm:  


        Bế hộ sơ dung tẩu
        Vi tăng nhạo tọa thiền
        Nhất tâm vô tạp niệm
        Vạn hạnh tự thông huyền
        Nguyệt ấn thu giang tĩnh
        Đăng minh thảo xá tiên
        Kỷ nhân năng đáo thử
        Đáo thử kỷ năng chơn.


Chuyển sang Việt ngữ:

        Đóng cửa lại sẽ thấy (cửa ở đây là cửa tâm)
        Sự thích thú của tọa thiền càng tăng
        Nhất tâm không tạp niệm
        Muôn hạnh tự thông huyền
        Trăng in dòng thu lặng
        Đèn sáng khắp nhà cỏ
        Mấy người hay đến đó
        Đến đó mấy kẻ thành.





        09. Đức Từ Phụ đã từng dạy cho tứ chúng về lẽ "Không" trong Kinh Kim Cang. Lý chơn của tính không ở đây nói lên sự huyễn giả của chư pháp: Thị chư pháp không tướng. Hiểu được như vậy, ta sẽ không còn mê mờ, chấp trước nữa; mà ngược lại, chúng ta sẽ hoàn toàn buông xả. Đức Thế Tôn đã dạy chúng ta nên luôn quán sát như thế để thấy rằng những cái có hình tướng đều là mộng, là huyễn, là giả, là không thật. Hãy nghiền ngẫm lời dạy của Đức Từ Phụ trong Kinh Kim Cang:


Bản chữ Nôm:

        Nhất thiết hữu vi pháp
        Như mộng huyễn bào ảnh
        Như lộ diệt như điện
        Ưng tác như thị quán.


Chuyển sang Việt ngữ:

        Tất cả pháp hữu vi
        Như mộng, như huyễn, như giả
        Như sương, cũng như điện
        Nên luôn khởi quán như vậy.




        10. Thiền sư Cảnh Sơn bên Tàu đã ngộ đạt đến tuyệt đỉnh của Phật lý nên dưới mắt Ngài, cái gì cũng là không. Ngược lại với kẻ mê thì cái gì cũng là có. Ngộ cái không tức là nhận biết được lẽ đạo, lẽ chơn không; từ đó mà hiển bày diệu hữu. Cũng từ đó mà giữa không và có không còn biên giới hạn hẹp của phàm phu nữa. Hãy suy gẫm bài kệ của Ngài:


Bản chữ Nôm: 


        Chư pháp tùng bản lai
        Thường tự tịch diệt tánh
        Xuân đáo bách hoa khai
        Hoàng oanh đề liễu thượng.


Chuyển sang Việt ngữ:

        Các pháp từ xưa nay
        Tướng thường tự tịch diệt
        Xuân đến trăm hoa nở
        Cành liễu hoàng anh hót.





        11. Một vị Thiền sư thời Nam Tống bên Tàu đã lấy một bài thơ Đường mà giúp cho người đời luôn tìm thấy mùa xuân qua thiền. Với Ngài, thiền là cả một nghệ thuật sống tuyệt vời; thiền là nghệ thuật kềm chế vọng tưởng và ảo giác của con người; thiền là bình tĩnh trước cuộc đời, dù rằng ngoại cảnh có diễn ra trước trạng thái nào cũng không làm xáo động dòng suy tưởng của ta. Thành hay bại, đẹp hay xấu, giàu hay nghèo, quyền uy hay không quyền uy, giỏi hay dở, xuân đến hay xuân tàn… không còn là chuyện bâng khuân thương tiếc với ta nữa. Với thiền, gió thổi qua cành trúc, gió qua rồi, trúc không buồn giữ chi tiếng gió. Với thiền, nhạn bay qua đầm, nhạn qua rồi, đầm cũng không buồn lưu chi ảnh nhạn. Quả thiền vị thật tuyệt vậy. Hãy suy gẫm bài Đường thi sau đây:


Bản chữ Nôm:

        Phong suy sơ trúc
        Phong quá nhi trúc bất lưu thanh
        Nhạn độ hàn đàm
        Nhạn khứ nhi đàm bất lưu ảnh.


Chuyển sang Việt ngữ:

        Gió thổi qua trúc thưa
        Gió qua rồi, trúc không buồn giữ tiếng gió
        Nhạn bay qua đầm lạnh
        Nhạn đi rồi, đầm không buồn giữ ảnh nhạn. 




        12. Cách đây gần cả ngàn năm, thiền sư Mãn Giác đã nhìn sự vận hành của thời gian chả là cái gì cả nếu ta thấu triệt đạo lý Phật đà. Với Ngài, Xuân, Hạ, Thu, Đông là những bước chân dịu dàng, nhưng nghiệt ngã; chính chúng mang đến hơi ấm, làn gió mát, sự tươi tỉnh của vạn vật, nhưng cũng chính chúng đã nghiền nát tất cả những thành hoại của trần gian. Với Ngài, tất cả các pháp trên thế gian nầy đều bị chi phối bởi vô thường. Có xuân nào còn hoài, có hạ nào ở mãi, có thu nào không tàn, có đông nào không qua. Vạn pháp là vô thường như vậy đó. Khi mùa xuân đến, trăm hoa đua nở, không có cái gì có thể cưỡng lại được. Khi mùa xuân đi, trăm hoa đều tàn, cũng không có cái gì có thể cưỡng lại được. Tuy nhiên, với Ngài Mãn Giác, vẫn còn một cái gì đó vững vàng mặc cho giông bão của thời gian. Cái đó dù chỉ mong manh như cành mai sân trước, nó vẫn trường tồn. Nó là cái gì? Xin mời quý bạn hãy cùng Thiền sư Mãn Giác đi tìm nó:


Bản chữ Nôm:

        Xuân khứ bách hoa lạc
        Xuân đáo bách hoa khai
        Sự trục nhãn tiền quá
        Lão tùng đầu thiện lai
        Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
        Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.


Chuyển sang Việt ngữ:

        Xuân đi trăm hoa rụng
        Xuân đến trăm hoa nở
        Trước mắt việc đi mãi
        Trên đầu già lại đến
        Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết
        Đêm qua, sân trước một nhành mai.


        Ngài Mãn Giác chẳng những nói đêm qua, mà Ngài còn ngụ ý cả đêm nay, đêm mai và mãi mãi, cành mai ấy sẽ không và sẽ không bao giờ rơi rụng với thời gian. Với Ngài, trong cái đêm tối mờ mịt ấy, Niết Bàn vẫn hiển lộ. Trong vô lượng kiếp lăn trôi trong luân hồi sanh tử ấy, ta vẫn còn có một cành mai, cành mai của giác ngộ và giải thoát.





        13. Thiền sư Trần Thái Tôn đã nhìn thấy đời, rồi nhìn thấy đạo. Ngài đã thấy rõ con người thật của chính mình sau những năm tháng thăng trầm vương nghiệp. Cũng chính vì khối thịt đỏ au này mà từ bấy lâu nay ta lăn trôi trong luân hồi sanh tử; cũng chính vì nó mà ta đã quay cuồng trong vô số khổ đau. Ngài đã chẳng những vạch ra cho chính Ngài, mà Ngài còn vạch ra cho mọi người thấy rõ cái "Tôi" mà chúng ta thường ôm ấp bấy lâu nay là sai lầm; nó chỉ làm khổ chúng ta thôi. Chính con người thật của ta đang đứng sừng sững, cao vòi vọi như trái núi đang lẫn khuất sau bức mây mờ của vô minh. Chúng ta hãy theo Ngài Trần Thái Tôn đi vén bức màn vô minh ấy để thấy cho được con người thật của chính ta.


Bản chữ Nôm:

       

        Vô vị chân nhân xích nhục đoàn
        Hồng hồng bạch bạch mạc tương man
        Thùy tri vận quyện trường không tỉnh
        Thúy lộ thiên biên nhất vạn sơn.


Chuyển sang Việt ngữ:

        Có vị gì đâu khối thịt đỏ au ?
        Hồng hồng, trắng trắng khéo lừa nhau
        Ai hay mây cuốn, trời quang tạnh
        Hiện rõ bên trời dáng núi cao !




        14. Thiền sư Ngộ Ấn, trước khi tịch diệt, Ngài đã để lại cho chúng ta một bài kệ bất hủ về sự chiến thắng chính mình. Phật đã dạy rằng chiến thắng vạn quân không bằng tự chiến thắng mình. Đó là chiến công oanh liệt nhứt. Tự chiến thắng mình là tự biến mình thành một khối kim cương lạ lùng và mầu nhiệm. Có còn cái gì có thể hủy hoại được nó đâu ? Mà ngược lại chính khối kim cương ấy sẽ phá tan biên giới ta và phi ta, để liễu ngộ đạo lý tử sanh. Chính khối kim cương ấy sẽ giúp ta an trú trong chánh niệm, chứ không còn trú trong cái ta sanh diệt nữa. Và cũng chính khối kim cương ấy sẽ giúp ta tự tại và giải thoát. Ngài Ngộ Ấn đã dạy rằng có gì đâu mà không chiến thắng được những cái tạm bợ. Giữ chi, ôm chi, thương chi, chấp chi cái thân tứ đại đầy sinh, lão, bệnh, tử nầy ? Một thân xác gầy còm, tạm bợ và đầy dẫy sinh tử, lăn trôi trong vũ trụ trông thật là tội nghiệp. là sào huyệt của tự tại và bình an. Chỉ có nơi đó ta mới tìm thấy được hạnh phúc trọn vẹn và vĩnh cữu mà thôi.


Bản chữ Nôm: 


        Diệu tính hư vô bất khả phàn
        Hư vô tâm ngộ đắc hà nan
        Ngọc phần sơn thượng sắc thường nhuận
        Liên phát lô trung thấp vị càn.


Chuyển ngữ Thiền định:

        Tính không huyền diệu vô vàn
        Tâm không, liễu ngộ nghĩ bàn được đâu ?
        Núi cao ngọc cháy đượm màu
        Trong bùn sen thắm cho dù bùn dơ.





         15. Thiền sư Trần Nhân Tôn đã thấy rằng những nhận thức sai lầm của ta chỉ làm cho ta ngày càng xa cách con người thật của chính ta, hoặc giả chỉ làm cho ta ngày càng xa lìa cái Phật tánh trường tồn bất biến từ vô thỉ. Làm sao để khám phá ra được sự thật đang đứng sừng sững trước mắt ta đây? Khi phám phá ra được cái sự thật ấy thì tự nhiên nẻo về cũng không còn xa nữa. Chúng ta hãy cùng thiền sư Trần Nhân Tôn khám phá sự thật ấy. 


Bản chữ Nôm:

        Nhứt thiết pháp bất sinh
        Nhứt thiết pháp bất diệt
        Nhược năng như thị giải
        Chư Phật thường hiện tiền.


Huệ Quang chuyển sang Việt ngữ:

        Tất cả pháp không sanh
        Tất cả pháp không diệt
        Nếu thường thấy như thế
        Chư Phật thường hiện thân.


        Bây giờ ta đã thấy rõ sự thật ấy ở đâu rồi, vậy xin hãy nối gót Trần Tiên Sinh mà lần về cõi Phật.






16.  Bản chữ Nôm:

        Tâm tùy vạn cảnh chuyển,
        Chuyển xứ thật năng u.
        Tùy lưu nhận đắc tánh,
        Vô hỷ diệt vô ưu.


Chuyển sang Việt ngữ:

        Tâm theo muôn cảnh chuyển,
        Chổ chuyển thật kín sâu.
        Theo dòng nhận được tánh,
        Không mừng cũng không lo.


Tổ Ma-Noa-La, Tổ Thiền Tông thứ 22





        17. Thiền sư Minh Hành vào đời Trần đã nhìn thấy ánh chân như tỏa rộng vô cùng mầu nhiệm của Phật pháp. Tất cả các pháp đều vô thường sanh diệt; chỉ có chơn tâm là thường hằng, là vĩnh cữu. Ông đã để lại một bài kệ trước lúc nhập diệt:


Bản chữ Nôm:

        Minh chân như tính hải
        Kim tường Phổ Chiếu Thông
        Chí Đạo thành chánh quả
        Giác ngộ chứng chân không.


Chuyển sang Việt ngữ:

        Thấy chân như bể rộng
        Ánh vàng chiếu muôn phương
        Đạt đạo thành chánh quả
        Giác ngộ chứng chân không.





        18. Vào thời vua Lê Dụ Tông, Minh Lương Thiền Sư đã đốn ngộ được Thiền sư Chân Nguyên bằng bài kệ sau đây:


Bản chữ Nôm:

 

        Mỹ ngọc tàng ngoan thạch

        Liên hoa xuất ư nê

        Tu tri sanh tử xứ

        Ngộ thị tức Bồ Đề. 

 

Chuyển sang Việt ngữ:

 

        Ngọc xinh trong đá lỏi

        Hoa sen mọc nơi bùn

        Tu rõ đường sanh tử

        Ngộ đích thị Bồ Đề.


        Ngọc xinh trong đá, như sen ẩn trong bùn. Tu là biết đường sinh tử. Khi ngộ tức Bồ Đề. Trong đá vẫn có ngọc, trong bùn sen vẫn vương lên. Trong phàm phu vẫn có Phật. Hai nẻo ấy không rời nhau mà kỳ thật chúng song hành như những người bạn đồng hành. Trong chúng sanh có Phật; cũng như trong sanh tử ta thấy thấp thoáng bóng dáng của Bồ Đề. Chỉ có điều là ta có biết tu, biết thiền hay không thôi. Nếu ta biết tu, biết thiền, tức là ta đã nhận chân ra đâu là sanh tử, đâu là Bồ Đề ? Sanh tử và Bồ Đề chỉ khác nhau giữa mê và ngộ, đơn giản như vậy thôi.





        19. Thi hào Lý Bạch là một thi nhân nổi tiếng thời thịnh Đường. Ông cũng đã nhìn thấy thân phận khách lữ hành của một con người. Thấy và biết như vậy, nhưng không làm sao để vượt thoát ra được cái vòng lẩn quẩn ấy. Không biết về sau nầy Lý Bạch có tìm ra chân lý cho lẽ sống của ông hay không? Nhưng qua bài thơ nói về kiếp con người của ông, chúng ta thấy Lý tiên sinh đã đi được hai phần đường tu rồi. Chúng ta hãy cùng Lý tiên sinh đi vào kiếp người:


Bản chữ Nôm:


         Sanh vi quá khách
         Tử vi quy nhân
         Thiên địa nhất nghịch lữ
         Đồng vi vạn cổ trần. 


Chuyển sang Việt ngữ:

         Sống làm khách qua đường
         Chết về lại cố hương
         Trời đất là quán trọ
         Cùng hạt bụi ngàn năm.



        Ôi thương thay cho Lý Bạch, cùng thương thân phân hạt bụi ngàn năm của ông. Với Lý tiên sinh, thân phận con người chỉ là những hạt bụi lăn trôi từ vô thỉ. Với Lý Bạch, kiếp nhân sinh và hạt bụi nào có khác chi đâu?
Cả hai vốn cùng cội nguồn, cùng bản thể. Nhưng ngừng lại ở chỗ thân phận con gnười chỉ là những hại bụt lăn trôi thì tội nghiệp quá. Không lẽ để cho hạt bụi ấy cứ mãi lăn trôi? Chúng ta phải tìm cho được cái đích thực giá trị của lẽ sống. Phải tìm cho được bản chất thực sự của hạt bụi ấy để quay trở về với cội nguồn của sự thật. Chúng ta là những đứa con Phật, quyết không để lâm vào cái tình cảnh nửa chừng lăn trôi của Lý tiên sinh, mà chúng ta quyết quay ngay vào chính ta để vạch ra hướng đi cho chính mình. Sự an lạc hay đau khổ là ở tại nơi ta. Chúng ta sẽ không để cho một mắc xích nào buộc trói chúng ta; mà chúng ta phải tự mình vượt thoát. Dĩ nhiên cuộc vạn lý vượt thoát này không phải là dễ, nhưng không vì vậy mà chúng ta cứ mãi sống hư hư ảo ảo; mộng không ra mộng, thực không ra thực. Sống mà như "Túy sanh mộng tử": Sống say chết mộng. Đừng để đời người mãi đắm chìm trong mê lộ tử sinh đằng đẳng. Sống mà cứ mãi ôm lấy những cái có, những cái không, những cái vui, buồn, thương, ghét, tốt, xấu, sinh, lão, bệnh, tử mãi như thế này ư?




        20. Thiền sư Nam Nhạc đời Đường, trước khi tịch diệt có bài kệ căn dặn đệ tử:


Bản chữ Nôm: 


        Nhất thiết chư pháp giai tùng tâm sanh
        Tâm vô sở sanh, pháp vô sở trụ.
         Nhược đạt tâm địa sở trụ vô ngại
         Phi ngộ thượng căn thận vật khinh hứa.


Chuyển sang Việt ngữ: 


        Tất cả các pháp đều do tâm mà ra
        Tâm không có chỗ sanh thì pháp cũng không có chỗ trụ.
        Nếu đạt được tâm địa chỗ trụ không ngại
        Chẳng gặp bậc thượng căn cẩn trọng chớ vọng truyền.


         Thiền sư Nam Nhạc đã thấu triệt lý huyền diệu đến nỗi Ngài đã không còn phân biệt thiền hay không thiền. Tuy nhiên, kẻ hậu bối chúng ta phải vô cùng cẩn trọng, vì nếu chẳng phải là bậc thượng căn mà truyền dạy và hứa khả Phật pháp một cách bừa bãi. Gặp ai cũng nói pháp thượng thừa, khiến kẻ ngã mạn tiểu căn chấp ngã, hiểu lầm lý Phật, hành xử ngược lại thánh ý. Đã không đem lại lợi ích mà còn làm cho những hạng người ấy sa vào chấp không, tạo nghiệp vô ký, càng ngày càng xa mất bổn tâm của chính mình, làm sao tu hành đúng chánh pháp được? Còn với Ngài Nam Nhạc, hễ tâm không thì mặt trời trí huệ sẽ tự sang chiếu. Mà thật vậy, cho đến bây giờ những gì Ngài đã dạy vẫn còn là những chân lý không ai có thể chối cãi được. Tâm mà không sanh, pháp sẽ không có chỗ trụ, thật ư là đơn giản. Hãy lắng long chiêm nghiệm và hành trì câu này thôi cũng đã là quá đủ cho cuộc tu hành rồi. 





Tiểu sử Đức Phật Thích Ca Mâu Ni với hình vẽ 


       

       

       

       

       

       

       

       

       

       

       

       

       

       

       

       






Kinh Đức Phật thuyết Kinh A Di Đà với hình vẽ 


   

   

   

   

   

   

   



   

   

   

   



   



   

   

   

   

   

   

   

   

   

   

   

   

   






Một cõi Phật rộng lớn bao nhiêu? 

        Một vị Phật thì siêu việt khi Ngài giáo hóa tất cả chúng sanh hữu tình trong một Phật độ.  Một Phật độ hay một Phật quốc là một Đại thiên thế giới.  Núi Tu Di và bảy lục địa bao quanh núi đó, tám biển và những núi Thiết vi tạo thành một Tiểu thiên thế giới (một hệ mặt trời);  1,000 Tiểu thiên thế giới tạo thành một Trung thiên thế giới;  1,000 Trung thiên thế giới tạo thành một Đại thiên thế giới, như vậy bao gồm 1,000,000,000 Tiểu thiên thế giới. 




Những lời Phật dạy được biên soạn bởi những học giả Phật giáo uyên bác 


Đạo không hình tướng, cần phải thủ chí tu hành

        Đạo không có hình tướng, biết suông vô ích, mà cần phải thủ chí tu hành. Ví như lau gương sạch bụi thì sang liền thấy bóng mình. Người dứt dục, chứng không, liền thấy đạo chân thật.
Kinh Bốn Mươi Hai Chương


Đắc đạo tại tâm mà kỳ thật ở tại sự thực hành

        Phật dạy:  "Đệ tử cách xa ta ngàn dặm, tâm nghĩ đến giới của ta, ắt được đắc đạo. Kẻ ở bên cạnh ta mà tâm tà cũng chẳng bao giờ đắc đạo. Kỳ thật là do chỗ thực hành; ở gần ta mà không thực hành lời ta dạy thì muôn phần có ích chi?" 
Kinh Bốn Mươi Hai Chương


Nói đạo dễ, hành đạo khó

      Tất cả người đời làm việc tội thì dễ, làm việc phước thì khó. Tất cả hành học sĩ làm việc phước thì dễ, hành đạo thì khó. Hành đạo còn dễ mà ngộ đạo là khó. Nói đạo là dễ, hành đạo là khó. 
Kinh Ngũ Khổ Chương Cú


Chọn điều lành mà làm

        Phật bảo Bồ Tát Di Lặc:  Các trời, người v.v…, ta nay nói với các ông: "Việc thế gian người đời dụng như thế cho nên chẳng đắc đạo. Phải nên suy xét chín chắn xa lìa các điều ác, chọn các điều lành mà siêng làm. Ái dục, vinh hoa không thể bảo tồn được mãi, rồi sẽ đến lúc biệt ly không có gì vui. Các ông gặp đươc Phật tại thế, phải nên siêng năng tin tấn tu hành."
Kinh Vô Lượng Thọ (quyển hạ)


Lời dạy của Đề Bà Đạt Đa và của Phật

        Đề Bà Đạt Đa dạy người làm phước, không dạy người hành đạo. Phật dạy người làm phước, trì giới, giữ gìn tâm ý, đắc đạo mới thôi.
Kinh Xứ Xứ


Ba tâm giới, định và huệ

        Đã có tâm giới thì tâm định thành; tâm định đã thành thì tâm huệ sáng. Có ba tâm này thì đạo dễ đắc.
Kinh Phật Bát Nê Hoàn (quyển thượng)


Chẳng hành đạo thì khổ càng lớn

        Người hành đạo chỉ khổ một đời do phải tu hành; người chẳng hành đạo thì khổ càng thêm lớn. Như người tắm rửa chỉ sạch được bên ngoài mà tâm nhơ chẳng trừ được.
Kinh Phật Khai Giải Phạm Chí A Bạt


Tâm chọn lấy địa ngục, tâm chọn lấy trời người

        Mạnh hơn tất cả không gì qua tâm. Tâm là oan gia thường dối gạt người.
        Tâm chọn lấy địa ngục, tâm chọn lấy ngạ quỷ, tâm chọn lấy súc sanh, tâm chọn lấy trời người. Làm ra hình mạo cũng do tâm. Hàng phục được tâm là đạo, sức ấy tối đa. Ta cùng tâm tranh đấu trải qua vô số kiếp nay mới thành Phật, đi một mình trong ba cõi đều do tâm cả.

Kinh Ngũ Khổ Chương Cú


Hãy thanh tịnh tâm mình

        Đừng chê bai kẻ khác
        Đừng để ý thị phi
        Chỉ nghĩ việc mình làm
        Có đúng hay không đúng
        Không làm các điều ác
        Vâng làm mọi việc lành
        Thanh tịnh tâm ý mình
        Là lời chư Phật dạy. 

Kinh Tăng Nhất A Hàm, chương 44: Mười nghiệp bất thiện


Uống rượu có ba mươi sáu lỗi

        Phật dạy: Người ở thế gian ưa uống rượu say mắc ba mươi sáu lỗi:
        "1. Uống rượu say khiến con chẳng kính cha mẹ, tôi chẳng kính vua, vua tôi cha con không có trên dưới.
        2. Nói năng bậy bạ.
        3. Uống rượu nói lời chia rẽ, nói nhiều.
        4. Say rượu nói hết những điều cơ mật của người.
        5. Say rượu mắng trời quở đất chẳng biết hủy kỵ.
        6. Say rượu nằm giữa đường, chẳng biết đường về, hoặc đánh mất đồ vật.
        7. Say rượu chẳng thể đi đứng đoan chánh.
        8. Say rượu đi ngã tới ngã lui hoặc rơi vào mương rãnh, hầm hố.
        9. Say rượu té lên té xuống vỡ cả mặt mày.
        10. Say rượu mua bán lầm lộn, gây việc đụng chạm với người.
        11. Say rượu làm mất việc làm, chẳng lo việc làm ăn sinh sống.
        12. Hao tốn tiền của.
        13. Say rượu chẳng nghĩ đến sự đói lạnh của vợ con.
        14. Say rượu mắng chửi chẳng kể đến luật pháp nhà vua.
        15. Say rượu cởi áo quần, tha^n thể lõa lồ chạy khắp nơi không biết hổ thẹn.
        16. Say rượu chạy càn vào nhà người lôi kéo phụ nữ, nói bậy nói bạ.
        17. Muốn đánh người đi bên cạnh.
        18. Dậm chân la lối om sòm làm kinh động ha`ng xóm.
        19. Say rượu giết càn các loài trùng kiến.
        20. Say rượu đập phá đồ đạc trong nhà.
        21. Người say rượu bị người nhà coi như kẻ ở trong tù ngục say sưa không có suy nghĩ.
        22. Kết bạn cùng bọn người ác.
        23. Xa người hiền lành.
        24. Say rồi tỉnh dậy thân thể cảm thấy bệnh hoạn.
        25. Say sưa ói mửa dơ bẩn, vợ con chán ghét.
        26. Say sưa tâm ý buông lung không biết tránh thú dữ.
        27. Say rượu chẳng kính người hiền thông hiểu kinh điển, chẳng kính Đạo sĩ, chẳng kính Sa môn.
        28. Say rượu dâm dật không biết kiêng sợ.
        29. Say rượu như người điên, mọi người đều tránh xa.
        30. Người say như người chết không còn biết gì cả.
        31. Người uống rượu say sẽ bị bệnh đau gan.
        32. Trời, rồng, quỷ thần đều không thích ngư
i uống rượu .
        33. Những người bạn tốt lần lần xa lánh người uống rượu.
        34. Người say rượu quậy phá bị chính quyền bắt, hoặc bị đánh đòn.
        35. Sauk hi chết sẽ bị đọa vào địa ngục Thái Sơn, thường uống nước đồng sôi làm cháy cả gan ruột, như vậy mà muốn chết không được, cầu sống cũng không được, trải qua nghìn muôn năm.
        36. Được ra khỏi địa ngục, sanh làm người thường ngu si không biết gì cả." 

Kinh Phận Biệt Thiện Ác Sở Khởi


Nghe pháp và suy nghĩ suông không thể chứng ngộ

        Nếu từ nghe pháp và suy nghĩ suông mà được tự chứng ngộ, thì thật là vô lý. Thiện nam! Ta sẽ nói thí dụ về cái nghĩa nầy, các ông hãy lắng nghe. Như trong sa mạc lớn không có khe suối, giếng nước, đang lúc mùa xuân mùa hạ nắng gắt, có một người đi từ tây sang đông, gặp một vị đại trượng phu từ phía đông qua, liền hỏi: "Tôi đang khô khát, chỗ nào có nước và bóng cây mát mẻ, tôi muốn đến đó tắm rửa, nghỉ ngơi để trừ nóng bức khô khát". Vị đại trượng phu kia biết rành và nói rõ rằng: "Từ đây đi về phía đông có hai con đường, một con đường bên trái và một con đường bên phải. Ông nên gắng sức đi theo con đường bên phải chắc chắn sẽ đến chỗ có dòng suối nước ngọt và bóng cây mát mẻ".

        Nầy thiện nam! Ý ông nghĩ sao? Người nóng bức khô khát kia tuy được nghe nói đến tên suối và cây như thế, chỉ nghĩ đến đó mà không đi thì có được mát mẻ và hết nóng bức khô khát chăng? Đáp rằng: "Thưa, không! Vì sao? Vì cần phải theo lời chỉ đường, đi đến dòng suối kia lấy nước uống và tắm rửa thì mới được mát mẻ, hết nóng bức khô khát.

        Nầy thiện nam! Nói sa mạc là dụ cho sanh tử. Người đi từ phía tây sang là dụ cho chúng sanh. Nóng bức là dụ cho các phiền não. Khô khát là dụ cho tham ái. Vị đại trượng phu từ phía đông đến chỉ đường là dụ cho Phật, Bồ Tát trụ nhất thiết trí đắc thật nghĩa chân tánh bình đẳng của các pháp. Được nước trong mát, không còn nóng bức khô khát là dụ cho tự chứng ngộ chân thật.
Kinh Hoa Nghiêm, phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện thứ 32


Làm cả bảy việc 


        Đạo có bảy việc:  Một là bố thí một cách vui vẻ, tâm không mong muốn cái gì khác;  hai là chỉ muốn được nghe pháp;  ba là chỉ tin;  bốn là chỉ trì giới;  năm là chỉ muốn tu hành;  sáu là chỉ muốn học huệ;  bảy là chỉ muốn giải thoát. 

        Lúc Phật còn tại thế thì được giải thoát.  Chuyển qua đời sau chỉ học huệ.  Chuyển qua đời sau nữa chỉ muốn tu hành.  Chuyển qua đời sau nữa chỉ trì giới.  Chuyển qua đời sau nữa chỉ tin.  Chuyển qua đời sau nữa chỉ muốn nghe pháp.  Chuyển qua đời sau nữa chỉ muốn bố thí.  Chẳng những bố thí mà còn muốn nghe pháp.  Chẳng những muốn nghe pháp mà còn tin.  Chẳng những tin mà còn trì giới.  Chẳng những trì giới mà còn tu hành.  Chẳng những tu hành mà còn học huệ.  Chẳng những học huệ mà còn giải thoát.  Bảy việc này cần phải thực hành đầy đủ. 

Kinh Tam Huệ 



Sao gọi là biết người? 


        Sao gọi là biết người? 

        Như có hai người:  Một người tin đạo và một người không tin đạo.  Người tin đạo đáng được khen ngợi.  Người không tin đạo không đáng được khen ngợi. 


        Người tin đạo cũng có hai hạng:  Một hạng thường đến đạo tràng và mến Sa môn, một hạng ít đến đạo tràng và xem thường Sa môn.  Người thường đến đáng được khen ngợi.  Người ít đến không đáng được khen ngợi. 

        Người thường đến đạo tràng lại có hai hạng:  Một hạng yêu kính Sa môn và một hạng chẳng yêu kính Sa môn.  Người yêu kính thật đáng được khen ngợi.  Người chẳng yêu kính chẳng đáng được khen ngợi. 


        Người yêu kính lại có hai hạng:  Một hạng gần gũi Sa môn để học tập và một hạng không gần gũi Sa môn để học tập.  N
gười gần gũi học tập thì đáng được ngợi khen. 
Người không gần gũi học tập không đáng được ngợi khen. 

        Người gần gũi học tập cũng có hai hạng:  Một hạng thích hỏi kinh pháp, một hạng chẳng thích hỏi kinh pháp.  Người thích hỏi kinh pháp thì đáng được khen ngợi.  Người chẳng thích hỏi kinh pháp thì chẳng đáng được khen ngợi. 


        Người thích hỏi kinh pháp cũng có hai hạng:  Một hạng lắng tai nghe và một hạng chẳng lắng tai nghe.  Người lắng tai nghe thì đáng được khen ngợi.  Người chẳng lắng tai nghe thì chẳng đáng được khen ngợi. 

        Người lắng tai nghe cũng có hai hạng:  Một hạng nghe pháp rồi thọ trì và một hạng nghe pháp rồi chẳng thọ trì.  Người nghe pháp rồi thọ trì thì đáng được khen ngợi. 
Người nghe pháp rồi chẳng thọ trì thì không đáng được khen ngợi. 

        Người thọ trì cũng có hai hạng: 
Một hạng nghe pháp rồi suy tư nghĩa lý, một hạng nghe pháp rồi chẳng suy tư nghĩa lý.  Người nghe mà suy tư thì đáng được khen ngợi.  
Người nghe mà chẳng suy tư thì không đáng được khen ngợi.


        Người nghe pháp rồi suy tư nghĩa lý cũng có hai hạng:  Một hạng hiểu đúng theo nghĩa kinh mà thọ nhận pháp rồi đúng như pháp mà lập hạnh;  một hạng hiểu chẳng đúng theo nghĩa kinh, chẳng thọ nhận pháp, chẳng đúng như pháp mà lập hạnh.  Người hiểu đúng như nghĩa kinh thì đáng được khen ngợi.  Người hiểu chẳng đúng như nghĩa kinh thì chẳng đáng được khen ngợi. 

        Người hiểu đúng theo nghĩa kinh cũng có hai hạng:  Một hạng chỉ tự làm an ổn cho mình, chẳng làm an ổn cho người và cho cả thiên hạ, chẳng thương thế gian, chẳng làm lợi ích cho mọi người;  Một hạng tự có thể làm an ổn mình, cũng làm an ổn người và cho cả thiên hạ, thương xót thế gian và làm lợi ích cho mọi người. 
  
        Nầy các thầy Tỳ kheo nên đặc biệt lưu ý:  Người tự có thể làm an ổn mình, cũng làm an ổn người vá cho cả thiên hạ, thương xót thế gian và làm lợi ích cho mọi người là người tối thượng, tối trưởng, tối tôn, cực tôn.  Ví như sữa bò làm thành lạc, lạc làm thành tô, tô làm thành đề hồ, đề hồ là tối thượng.  Người như thế là người tôn quý trong loài người, là thượng hạnh, tôn hạnh, cực tôn hạnh, là tối thẳng, là thượng nguyên, vô thượng. 

        Nầy các thầy Tỳ kheo!  Người nào thấy hai người mà biết ai là trí, là cao, và phân biệt được người này giỏi hơn người kia, ấy là biết ngaười vậy. 

Kinh Thất Tri